Người vợ cổ vũ chồng lập thân, đồng thời nhắc nhở chồng tránh xa các tệ nạn, và cổ vũ người đàn ông rèn luyện cả văn lẫn võ.
Người vợ nhăn nhủ phu quân cứ an lòng mà tìm lấy công danh, hậu phương thơ phụng đã có nàng lo.
Gia huấn ca - Khuyên Chồng
Vợ chồng ta tơ hồng vấn vít,
Nhân duyên này bà nguyệt khéo xe.
Trình anh thân thiếp vụng về,
Yêu thì nên tốt chớ nề ngu si.
Quản bao lỗi nọ, lầm kia,
Chiều thanh vẻ quí dám bì được đâu.
Thiếp vâng lời dạy trước sau,
Nguyện xem then khóa, giữ hầu áo khăn.
Trước là thờ phụng tiền nhân,
Sớm thăm tối viếng ân cần đỡ anh.
Bốn phương chàng hãy kinh doanh,
Dùi mài kinh sử tập tành cung tên.
Công danh mong đợi ơn trên,
Còn trong trần lụy hãy xin dấu mầu.
Gửi trình dễ dám khuyên đâu,
Sắc phòng thương thận, rượu hầu thương tâm,
Thiếp xin chàng chớ đăm đăm,
Những nơi cờ bạc chớ ham làm gì.
Thế gian lắm kẻ điên mê,
Áo quần lam lũ người thì như ma.
Thiếp xin chàng lánh cho xa,
Một niềm trung hiếu để mà lập thân.
Bấy lâu những đợi long vân,
Đào thơ, liễu yếu gửi thân anh hùng.
Xưa nay gái đội ơn chồng,
Hiển vinh bõ lúc cơm sung, cháo dền.
Ơn trời công đã được đền,
Chàng nên quan cả, thiếp nên hầu bà!
301–305
301. Dạy nhà trước đã mới đem dạy người.
302. Lấy điều ăn ở dạy con,
303. Dẫu mà gặp tiết nước non chuyền vần.
304. Ở cho có đức có nhân,
305. Mới mong đời trị được ăn lộc trời.
306–310
306. Thương người tất tả ngược xuôi,
307. Thương người lỡ bước, thương người bơ vơ.
308. Thương người ôm dắt trẻ thơ,
309. Thương người tuổi tác già nua bần hàn.
310. Thương người quan quả, cô đơn,
311–315
311. Thương người lỡ bước lầm than kêu đường.
312. Thấy ai đói rách thì thương,
313. Rách thường cho mặc, đói thường cho ăn.
314. Thương người như thể thương thân,
315. Người ta phải bước khó khăn đến nhà.
316–320
316. Đồng tiền bát gạo mang ra,
317. Rằng đây "cần kiệm" gọi là làm duyên
318. May ra ở chốn bình yên,
319. Còn người tàn phá chẳng nên cầm lòng.
320. Tiếng rằng; ngày đói tháng đông,
321–325
321. Thương người bớt miệng bớt lòng mà cho
322. Miếng khi đói, gói khi no,
323. Của tuy tơ tóc, nghĩa so nghìn trùng.
324. Của là muôn sự của chung,
325. Sống không, thác lại tay không có gì.
326–330
326. Ở phải có nhân có nghì,
327. Thơm danh vả lại làm bia miệng người.
328. Hiền lành lấy tiếng với đời,
329. Lòng người yêu dấu, là trời hộ ta.
330. Tai ương hoạn nạn đều qua,
331–335
331. Bụi trần giũ sạch thực là từ đây.
332. Vàng trời tuy chẳng trao tay,
333. Bình an hai chữ xem tày mấy mươi.
334. Mai sau bạc chín tài mười,
335. Sống lâu ăn mãi của đời về sau.
336–340
336. Kìa người ăn ở cơ cầu,
337. Ở thì chẳng biết về sau phòng mình,
338. Thấy ai đói rách thì khinh,
339. Cách nào là cách ích mình thì khen.
340. Hứng tay dưới với tay trên,
341–345
341. Lọc lừa từng tí, bon chen từng đồng!
342. Ở thì phất giấy đan lồng,
343. Nói thì mở miệng như rồng như tiên.
344. Gan thì quá ngỡ sắt đèn,
345. Miệng thơn thớt nghĩ rơi tiền bạc ra.
346–350
346. Mặt lành khéo nói thực thà,
347. Tưởng như xẻ cửa xẻ nhà cho nhau.
348. Ở nào mùi mẽ chi đâu,
349. Như tuồng cuội đất giấu đầu hở đuôi.
350. Nói lời lại nuốt lấy lời,
351–355
351. Một lưng bát xáo mười voi chưa đầy.
352. Cho nên mới phải lúc này:
353. Cửa nhà tàn phá phút rày sạch trơn.
354. Kẻ thì mắc phải vận nàn,
355. Cửa nhà một khắc lại tàn như tro.
356–360
356. Kẻ thì phải lính, phải phu,
357. Đem mình vào chốn quân gia trận tiền.
358. Kẻ thì mắc phải dịch ôn,
359. Kẻ thì thủy hỏa gian nan kia là!
360. Thấy người mà phải lo ta,
361–365
361. Sờ sờ trước mắt thực là thương thay,
362. Khuyên ai chớ bắt chước rày,
363. Ở lòng nhân nghĩa cho đầy mới khôn.
364. Lời cha dạy bảo nỉ non,
365. Trước sau ghi chép khuyên con nghe lời.
366–370
366. Nghe thì mới phải là người,
367. Chẳng nghe thì cũng là đời bỏ đi.
368. Phận làm gái ở cùng cha mẹ,
369. Lòng phải chăm học khéo học khôn,
370. Một mai xuất giá hồi môn,
371–375
371. Phận bồ liễu giá trong như ngọc,
372. Khéo là khéo bánh trong, bánh lọc,
373. Lại ngoan nghề dệt vóc, may mền.
374. Khôn là khôn lẽ phải, đường tin,
375. Lại trọn đạo nâng khăn sửa túi.
376–380
376. Khôn chẳng tưởng mưu lừa chước dối,
377. Khéo chẳng khoe vẻ lịch, chiều trai.
378. Xưa nay hầu dễ mấy người,
379. Miệng khôn, tai khéo cho ai được nhờ.
380. Phận làm gái này lời giáo huấn,
381–385
381. Lắng tai nghe cổ truyện mới nên,
382. Hãy xem xưa những bậc dâu hiền,
383. Kiêm tứ đức: dung, công, ngôn, hạnh,
384. Công là đủ mùi xôi, thức bánh,
385. Nhiệm nhặt thay đường chỉ mũi kim.
386–390
386. Dung là nét mặt ngọc trang nghiêm,
387. Không tha thiết, không chiều lả tả.
388. Ngôn là dạy trình thưa vâng dạ,
389. Hạnh là đường ngay thảo kính tin.
390. Xưa nay mấy kẻ dâu hiền,
391–395
391. Dung, công, ngôn, hạnh là tiên phàm trần.
392. Phận con gái ở nhà thi lễ,
393. Lắng mà nghe kể chuyện tam cương:
394. Dẫu ái ân cùng chiếu cùng giường,
395. Đạo chồng sánh quân thân chi đạo,
396–400
396. Làm tôi con chỉ trung chỉ hiếu,
397. Làm dâu thì chỉ kính mới nên.
398. Chớ khoe khoang mình bạc mình tiền,
399. Đừng đỏng đảnh cậy khôn cậy khéo.
400. …
No comments:
Post a Comment