Dạy con gái trong Gia Huấn Ca dạy con gái phải đề cao đức hạnh,
Dạy Con Gái Phải Có Đức Hạnh
Phận làm gái ở cùng cha mẹ,
Lòng phải chăm học khéo học khôn,
Một mai xuất giá hồi môn,
Phận bồ liễu giá trong như ngọc,
Khéo là khéo bánh trong, bánh lọc,
Lại ngoan nghề dệt vóc, may mền.
Khôn là khôn lẽ phải, đường tin,
Lại trọn đạo nâng khăn sửa túi.
Khôn chẳng tưởng mưu lừa chước dối,
Khéo chẳng khoe vẻ lịch, chiều trai.
Xưa nay hầu dễ mấy người,
Miệng khôn, tai khéo cho ai được nhờ.
Phận làm gái này lời giáo huấn,
Lắng tai nghe cổ truyện mới nên,
Hãy xem xưa những bậc dâu hiền,
Kiêm tứ đức: dung, công, ngôn, hạnh,
Công là đủ mùi xôi, thức bánh,
Nhiệm nhặt thay đường chỉ mũi kim.
Dung là nét mặt ngọc trang nghiêm,
Không tha thiết, không chiều lả tả.
Ngôn là dạy trình thưa vâng dạ,
Hạnh là đường ngay thảo kính tin.
Xưa nay mấy kẻ dâu hiền,
Dung, công, ngôn, hạnh là tiên phàm trần.
Phận con gái ở nhà thi lễ,
Lắng mà nghe kể chuyện tam cương:
Dẫu ái ân cùng chiếu cùng giường,
Đạo chồng sánh quân thân chi đạo,
Làm tôi con chỉ trung chỉ hiếu,
Làm dâu thì chỉ kính mới nên.
Chớ khoe khoang mình bạc mình tiền,
Đừng đỏng đảnh cậy khôn cậy khéo.
Bề thiếp phụ thuận tòng là điệu,
Cũng như bên thờ chúa thờ cha,
Muôn nghìn đừng thói kiêu ngoa,
Mắng ta không giận, yêu ta không nhờn.
Quyền mệnh phụ là mình làm chủ,
Trong đại hôn áo mũ thân nghênh,
Kính người vợ phép ở Lễ Kinh.
Chức phận phải chăm bề tần tảo,
Trong khuê khổn giữ gìn khăn áo,
Trên từ đường trăm việc trơn tru.
Từ cơm, canh, cá, thịt, mọi đồ,
Dẫu nhiều ít sửa cho trong sạch.
Bằng nhường ấy thần minh lai cách,
Câu "hữu trai" nên tiếng để đời,
Hoa thơm ai nỡ bỏ rơi,
Người khôn ai nỡ nặng lời đến ai.
Trích đoạn
101–105
101. Phải lo hiếu kính đêm ngày khăng khăng.
102. Bởi thương đến mới năng mắng quở,
103. Muốn cho ta sáng sủa hơn người,
104. Ân cần kẽ tóc, chân tơ,
105. Tấm lòng chép để mấy lời tạc ghi.
106–110
106. Đừng nặng nhẹ, tiếng chì tiếng bấc,
107. Đừng vùng vằng mặt vực, mặt lưng,
108. Có thì sớm tiến trưa dâng,
109. Cơm ngon canh ngọt cho bằng chị em.
110. Dù chẳng có thì yên một phận,
111–115
111. Người trên ta há giận ta sao!
112. Hoặc khi lầm lỗi điều nào,
113. Đánh đằng cửa trước, chạy vào cửa sau.
114. Khi ấm lạnh ta hầu coi sóc,
115. Xem cháo cơm, thang thuốc mọi bề,
116–120
116. Ra vào thăm hỏi từng khi,
117. Người đà vô sự, ta thì an tâm.
118. Việc báo hiếu phải chăm chữ hiếu,
119. Kiệm hay phong cũng liệu tùy ngơi.
120. Đừng điều tranh cạnh chia bai,
121–125
121. Xấu trong làng nước, để cười mai sau.
122. Đạo vợ chồng tình sâu nghĩa ái,
123. Lại chẳng nên mặt tái, mày tăm,
124. Chuyện đâu bỏ đấy cho êm
125. Đừng đem bên ấy về gièm bên ta.
126–130
126. Sách có chữ "nhập gia vấn húy",
127. Khi nói năng phải kỹ kiêng khem,
128. Dịu dàng tiếng thuận lời mềm,
129. Cứ lời chồng dạy mới yên cửa nhà.
130. Chớ nên cậy mình ta tài sắc,
131–135
131. Chồng nói ra nhiếc móc chê khen.
132. Nói càn như ở bậc trên,
133. Thường khi động đến tổ tiên quá lời.
134. Cơn giận đến, sự đời ngang ngửa,
135. Dở dói ra nát cửa tan nhà,
136–140
136. Chữ "tùy" là phận đàn bà,
137. Nhu mì để dạ, chua ngoa gác ngoài.
138. Dù lỗi phận gặp người tửu sắc
139. Hay gặp người cờ bạc lưu liên,
140. Nhỏ to tiếng dịu lời êm
141–145
141. Dần dà uốn mãi may mềm được chăng!
142. Phải chồng ngược, cắn răng chịu khổ,
143. Chớ nghiêng đầu, ngảnh cổ thiệt thân,
144. Duyên may gặp được văn nhân,
145. Thuộc câu "tương kính như tân" làm lòng.
146–150
146. Nghiệp đèn sách khuyên chồng sập sã,
147. Tiếng kê minh gióng giả đêm ngày,
148. Khuyên chồng nhớ đến đạo thầy,
149. Vật dâng lớn nhỏ gọi nay lễ thường.
150. In lấy chữ tao khang chi nghị,
151–155
151. Đừng mang câu đố kỵ chi thường.
152. Dây bìm cho tựa cành vàng,
153. Trước chàng đẹp mặt, sau nàng đỡ tay.
154. Câu "đường cái" xưa nay cũng vậy,
155. Trai làm nên lấy bảy lấy ba,
156–160
156. Lấy về hầu hạ nhà ta,
157. Thêm hòe, nẩy quế có là con ai ?
158. Cũng da thịt cũng tai mắt thế,
159. Kém ta nên phận ế hoa ôi,
160. Nghĩ tình ăn cạnh nằm ngoài,
161–165
161. Ấm no nên xót lấy người bơ vơ
162. Thế mới phải phép thờ phu tử,
163. Ấy mới là đạo xử hài hòa,
164. Chữ "tùy" rắn khúc nghi gia.
165. Môn đường thong thả, một nhà vẻ vang.
166–170
166. Kìa những đứa mặt thường cau có,
167. Khách đến nhà chửi chó mắng mèo,
168. Cất lời nặng cỡ đá đeo,
169. Đã ra thét tớ lại vào mắng con.
170. Khách về đoạn sợ mòn mất chiếu,
171–175
171. Chồng ra đường chẳng kẻo mặt mo!
172. Hễ ngày bạn hữu giao du,
173. Sai người trải chiếu, sắp đồ tiếp ra.
174. Dù trăm giận thì ta để bụng,
175. Có trọng người mới trọng chồng ta.
176–180
176. Tùy người thết đãi rượu trà,
177. Nhớ rằng: Của gửi chồng ta đi đường!
178. Ấy là vẹn cương thường bằng hữu,
179. Lại phải tường trong đạo chị em,
180. Đạo em thì phải trông lên,
181–185
181. Đạo chị trông xuống cho êm đẹp chiều.
182. Miếng bùi ngọt chia đều như một,
183. Khi nắng mưa, ấm sốt đỡ tay,
184. Với nhau như bát nước đầy,
185. Lá lành đùm bọc bóng cây rườm rà!
186–190
186. Đạo thúc tẩu một nhà minh bạch.
187. Lánh hiềm nghi tăm tích rõ ràng,
188. Trộm trông bóng đuốc Vân Trường,
189. Nức danh ba nước treo gương muôn nhà.
190. Cả trong ngoài cùng là đàn cháu,
191–195
191. Xem như con yêu dấu chẳng sai,
192. Đồng quà, tấm bánh hôm mai,
193. Chớ điều dằn vật, chớ lời gieo đanh.
194. Từ họ mạc, láng giềng, hàng xóm,
195. Cũng ở cho trong ấm ngoài êm,
196–200
196. Tiếng chào, tiếng hỏi cho mềm,
197. Chẳng khinh ai cũng chẳng hiềm oán ai.
198. Ấy ngôn hạnh các lời hằng giữ,
199. Lại cần điều cư xử cho tuyền,
200. Hễ ngày sóc, vọng, hối, huyền…