ý nghĩa cốt lõi của "đạo" này là răn dạy con cái sống hiếu thảo, lao động chăm và đức tính khiêm tốn, giữ gìn văn hóa trong gia đình thanh bạch.
Đạo làm con đặt chữ Hiếu lên hàng đầu. Con cái phải luôn ghi nhớ công lao sinh thành, dưỡng dục
"Đi thưa, về trình" câu cửa miệng luôn "vâng dạ", hiếu thảo, kính trọng và vâng lời cha mẹ là đức tính cần răng dạy.
Gia Huấn Ca -Nguyễn Trãi.
Gia Huấn Ca - Đạo làm con
Hễ làm người dạy kỹ thì nên,
Phấn son cũng phải bút nghiên,
Cũng nhân tâm ấy há thiên lý nào.
Với Cha Mẹ
Dù nội, ngoại hai bề cũng vậy,
Đừng đành hanh bên ấy, bên này,
Cù lao đội đức cao dày,
Phải lo hiếu kính đêm ngày khăng khăng.
Bởi thương đến mới năng mắng quở,
Muốn cho ta sáng sủa hơn người,
Ân cần kẽ tóc, chân tơ,
Tấm lòng chép để mấy lời tạc ghi.
Đừng nặng nhẹ, tiếng chì tiếng bấc,
Đừng vùng vằng mặt vực, mặt lưng,
Có thì sớm tiến trưa dâng,
Cơm ngon canh ngọt cho bằng chị em.
Dù chẳng có thì yên một phận,
Người trên ta há giận ta sao!
Hoặc khi lầm lỗi điều nào,
Đánh đằng cửa trước, chạy vào cửa sau.
Khi ấm lạnh ta hầu coi sóc,
Xem cháo cơm, thang thuốc mọi bề,
Ra vào thăm hỏi từng khi,
Người đà vô sự, ta thì an tâm.
Việc báo hiếu phải chăm chữ hiếu,
Kiệm hay phong cũng liệu tùy ngơi,
Đừng điều tranh cạnh chia bai,
Xấu trong làng nước, để cười mai sau.
201–205
201. Cùng ngày nguyệt tín phải khuyên dỗ chồng.
202. Khi thai sản trong phòng gìn giữ,
203. Học cổ nhân huấn tử trong thai,
204. Dâm thanh chớ để vào tai,
205. Ác ngôn chớ chút bợn lời sam sưa!
206–210
206. Từ xuất nhập, khởi cư, hành động,
207. Có lễ nghi nghiêm trọng đoan trinh
208. Đứng ngồi chính đại quang minh,
209. Cho bằng phẳng thế, chớ chênh lệch mình.
210. Chớ vin cao cũng đừng mang nặng,
211–215
211. Đừng ăn đồ cay đắng canh riêu,
212. Đừng ăn ít, chớ ăn nhiều,
213. Nuôi từ trong dạ khỏi điều lo xa.
214. Khi sinh nở thai hòa vô sự,
215. Cẩn từ khi trong cữ ngoài tuần.
216–220
216. Chiều sương chớ để áo quần,
217. Đỉnh đầu phải cúi, bước chân phải dò.
218. Nơi bếp vách đừng cho hơ lửa,
219. Ngọn đèn hoa chớ quở quá ngôn,
220. Kiêng khem trăm sự vuông tròn,
221–225
221. Trước mình yên dạ, sau con ít sài.
222. Ngày con đã biết chơi biết chạy,
223. Đừng cho chơi cầm gậy, trèo cao,
224. Đừng cho chơi búa chơi dao,
225. Chơi vôi, chơi lửa, chơi ao có ngày.
226–230
226. Lau cho sạch không hay dầm nước,
227. Ăn cho vừa, đừng ước cao lương,
228. Mùa đông tháng hạ thích thường,
229. Đừng ôm ấp quá, đừng suồng sã con.
230. Dạy từ thủa hãy còn trứng nước,
231–235
231. Yêu cho đòn bắt chước lấy người,
232. Trình thưa, vâng dạ, đứng ngồi,
233. Gái trong kim chỉ, trai ngoài bút nghiên.
234. Gần mực đen, gần đèn thì sáng,
235. Ở bầu tròn, ở ống thì dài,
236–240
236. Lạ gì con có giống ai,
237. Phúc đức tại mẫu là lời thế gian.
238. Làm mẹ chớ ăn càn, nói dở,
239. Với con đừng chửi rủa quá lời,
240. Hay chi thô tục những người,
241–245
241. Hôm nay cụ cụ, ngày mai bà bà.
242. Gieo tiếng ra chết cây, gãy cối,
243. Mở miệng nào có ngọn có ngành,
244. Đến tay bụt cũng không lành,
245. Chồng con khinh rẻ, thế tình mỉa mai!
246–250
246. Ấy những thói ở đời ngông dại,
247. Khôn thì chừa, mới phải giống người,
248. Sinh con thì dạy thì nuôi,
249. Biết câu phải trái lựa lời khuyên răn.
250. Tuổi cả khôn, hôn nhân trạch phối,
251–255
251. Giàu đừng tham, khó đói chớ nề,
252. Dâu hiền, rể thảo tìm về,
253. Xem tông xem giống kẻo mê mà lầm.
254. Xử với rể một niềm kính trọng,
255. Dù dở hay, đừng giọng mỉa mai,
256–260
256. Với dâu, dạy bảo phải lời,
257. Bắt khoan bắt nhặt, biết ai cho vừa!
258. Gương giáo tử nhường đưa mặt nhận,
259. Mực trì gia đặt hẳn ân uy.
260. Bọt bèo là phận nô tỳ,
261–265
261. Dạy nghiêm, ở thảo hai bề vẹn hai.
262. Có câu ví "Chiều người lấy việc",
263. Chẳng há nên ráo riết người ta.
264. Hay thì nó ở lâu ra,
265. Dở thì nó bước nào ta bận gì.
266–270
266. Một đôi kẻ phải khi lỡ độ,
267. Có thì cho chẳng có thì thôi.
268. Chẳng nên nhiếc mắng nhiều lời,
269. Cơ hàn hầu dễ có ai muốn gì.
270. Trong nhà vận thịnh suy có mệnh,
271–275
271. Đạo quỉ thần thì kính viễn chi,
272. Nắng mưa giải kiết có khi,
273. Phải chăm cơm thuốc, đừng mê cốt thầy.
274. Nhà chẳng quét, quét hay có rác,
275. Đã bói ra, bỏ nhác sao đành,
276–280
276. Cao tay mấy kẻ có danh,
277. Bùa bèn chẳng bỏ là tinh hiện vào.
278. Suy cho thấu, tà nào phạm chính,
279. Cứ thánh kinh cảnh tỉnh dị kỳ,
280. Kìa như mấy kẻ tăng, ni,
281–285
281. Thôi tuần cúng Phật, lại khi vào hè.
282. Nam mô phật rù rì hai chữ,
283. Đua nhau rằng tín nữ thiện nam,
284. Miệng rằng chừa độc chừa dâm,
285. Tay lần tràng hạt dao găm một bồ.
286–290
286. Kẻ trốn việc ở chùa cũng có,
287. Kẻ lộn chồng, trốn chúa cũng nhiều,
288. Gian ngoan rất mực làm kiêu,
289. Mượn danh Hòa thượng, lợi điều tham dâm.
290. Chẳng qua lũ ngu dân hoặc thái,
291–295
291. Phúc đức đâu nghĩ lại mà coi.
292. Trước sau có bấy nhiêu lời,
293. Bảo nhau gìn giữ nên người thơm danh.
294. Dù ai nấy có tình chẳng cứ,
295. Thói Thọ Dương vẫn giữ không chừa,
296–300
296. Ngày ngày mắng sớm đòn trưa,
297. Thường thường dạy dỗ mà ra tuồng gì.
298. Cành kia lớn sợ khi khó nắn,
299. Sắt nọ mài ắt hẳn nên kim,
300. Diễn nôm cho tiện mà xem.
No comments:
Post a Comment